 |
Kỷ niệm Ngày Đo lường Việt Nam 20.1
PHÁT TRIỂN ĐO LƯỜNG - XÂY DỰNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TS Vũ Khánh Xuân
Viện Đo lường Việt Nam
Đo lường là một lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) hết sức gần gũi và gắn bó mật thiết với đời sống con người. Đo lường cũng là một thành tố rất quan trọng trong hạ tầng kỹ thuật của mỗi quốc gia. Nó tham gia vào hầu hết các hoạt động trong một xã hội. Trong các hoạt động, từ đời sống thường nhật của chúng ta đến những công việc thuộc phạm vi của các ngành khoa học, công nghệ cao, những công việc mang tính toàn cầu... chúng ta đều nhận thấy sự hiện diện của đo lường. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, có thể nói, không có đo lường chính xác và thống nhất, chúng ta sẽ không thể có sản phẩm chất lượng tốt; không thể đảm bảo được công bằng trong thương mại; không đảm bảo được sự trong sạch của môi trường và sức khoẻ của nhân dân; không thể phát triển được KH&CN và nói chung là không thể đạt được mục tiêu năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.
Đảng và Nhà nước ta đã sớm quan tâm đến quản lý và phát triển đo lường, thể hiện ở các văn bản pháp luật đã được ban hành. Cách đây vừa tròn 60 năm, khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hãy còn non trẻ và trong điều kiện gian khó, ác liệt của cuộc kháng chiến chống Pháp, ngày 20.1.1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 08/SL quy định thống nhất áp dụng Hệ mét ở nước ta, khai sinh ngành Đo lường Việt Nam ngày nay. Tiếp đó, chỉ 4 năm sau khi Hệ đơn vị quốc tế (SI) ra đời (1960), năm 1964 Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ban hành Nghị định 186/CP chuyển toàn bộ hoạt động đo lường của nước ta theo các đơn vị quốc tế (SI). Để đáp ứng các nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời kỳ đổi mới, Quốc hội đã thông qua và ban hành Pháp lệnh Đo lường 1990 và Pháp lệnh Đo lường (sửa đổi) 1999.
Cho đến thời điểm này, Pháp lệnh Đo lường 1999 là văn bản pháp luật về đo lường cao nhất của Việt Nam, là cơ sở pháp lý để Việt Nam quản lý và phát triển đo lường, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế theo xu thế hội nhập quốc tế và khu vực. Các văn bản pháp luật về đo lường của Việt Nam hiện nay về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu phát triển và hội nhập về đo lường của một quốc gia đang phát triển. Nó đã kết hợp được các lĩnh vực đo lường: Đo lường khoa học, đo lường pháp định và đo lường công nghiệp trong một cơ chế quản lý thống nhất của Nhà nước.
ĐO LƯỜNG KHOA HỌC
Từ năm 1964, nước ta đã thống nhất đơn vị đo lường theo Hệ đơn vị quốc tế (SI). Pháp lệnh Đo lường 1990 và Pháp lệnh Đo lường (sửa đổi) 1999 đã chấp nhận SI và lấy các đơn vị đo trong SI làm cơ sở để thiết lập hệ đơn vị đo lường pháp định của Việt Nam. Năm 2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 65/2001/NĐ-CP và năm 2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định 34/2007/NĐ-CP quy định đơn vị đo lường pháp định của nước ta gồm hơn 100 đơn vị của các đại lượng đo thuộc 8 lĩnh vực: Không gian, thời gian và hiện tượng tuần hoàn; cơ; nhiệt; điện và từ; ánh sáng và bức xạ điện từ có liên quan; âm; hoá lý và vật lý phân tử; bức xạ ion hoá. Những đơn vị này đều là những đơn vị SI, đơn vị dẫn xuất nhất quán từ đơn vị SI và các đơn vị ngoài SI được dùng theo thông lệ quốc tế. Đây chính là cơ sở quan trọng để thiết lập và phát triển Hệ thống chuẩn đo lường quốc gia của nước ta.
Theo Pháp lệnh về đo lường, chuẩn đo lường của từng lĩnh vực đo bao gồm: Chuẩn quốc gia, chuẩn chính và chuẩn công tác. Nhà nước chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển hệ thống chuẩn đo lường quốc gia. Các địa phương, các ngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các cơ sở nghiên cứu tự chịu trách nhiệm thiết lập, phát triển chuẩn đo lường có độ chính xác cần thiết và liên kết với chuẩn quốc gia theo yêu cầu hoạt động của mình. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để những chuẩn này được liên kết với chuẩn quốc gia thông qua các tổ chức hiệu chuẩn. Hiện nay, hầu hết các chuẩn đo lường quốc gia được thiết lập, duy trì và khai thác tại Viện Đo lường Việt Nam (Trung tâm Đo lường Việt Nam trước đây). Viện Đo lường Việt Nam cũng là tổ chức KH&CN chịu trách nhiệm dẫn xuất đơn vị đo thống nhất trong cả nước từ chuẩn quốc gia đến các chuẩn cấp chính xác thấp hơn và đến các phương tiện đo trong cả nước.
Năm 2004 Chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch phát triển chuẩn đo lường quốc gia giai đoạn 2004-2010”. Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 10 chuẩn quốc gia đầu tiên của nước ta. Các chuẩn quốc gia này đang được thiết lập, duy trì và khai thác tại Viện Đo lường Việt Nam. Cũng trong năm 2004, được sự ủy quyền của Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Giám đốc Trung tâm Đo lường Việt Nam đã ký văn bản tham gia thoả thuận công nhận lẫn nhau toàn cầu (CIPM MRA) về chuẩn đo lường quốc gia và hiệu lực giấy chứng nhận hiệu chuẩn do các Viện Đo lường Quốc gia công bố.
Sau khi tham gia CIPM MRA, cho đến nay, 4 lĩnh vực đo của Viện Đo lường Việt Nam đã được Tổ chức Đo lường khu vực châu Á - Thái Bình Dương đánh giá công nhận và đang gửi kết quả đánh giá lấy ý kiến cuối cùng đến các tổ chức đo lường khu vực khác trước khi công bố toàn cầu. Trong năm 2010, dự kiến khoảng 2-3 lĩnh vực đo khác của Viện Đo lường Việt Nam sẽ được tổ chức quốc tế đánh giá để xem xét công nhận và công bố toàn cầu. Đây thực sự là một bước tiến đáng kể của đo lường Việt Nam, nó tạo ra cơ sở kỹ thuật rất quan trọng, đảm bảo tính liên kết đo lường tin cậy, được công nhận quốc tế cho các phép đo khác trong cả nước.
Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, hệ thống chuẩn đo lường quốc gia của nước ta hiện nay đã được tăng cường đáng kể và có thể đáp ứng được các nhu cầu cơ bản cần thiết nhất cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Hệ thống chuẩn quốc gia này cùng với hệ thống chuẩn được thiết lập, phát triển tại các địa phương, các ngành, các cơ sở... chính là nền tảng khoa học - kỹ thuật quan trọng nhất của ngành đo lường, đảm bảo cho đo lường Việt Nam thống nhất, chính xác và tin cậy.
ĐO LƯỜNG PHÁP ĐỊNH
Phát triển Hệ thống các tổ chức kiểm định phương tiện đo: Theo quy định trong Pháp lệnh đo lường, phương tiện đo sử dụng vào các mục đích sau phải được kiểm định: Định lượng hàng hóa, dịch vụ trong mua bán, thanh toán; Đảm bảo an toàn, sức khỏe và môi trường; Giám định tư pháp và phục vụ các hoạt động công vụ của Nhà nước.
Căn cứ vào quy định trên, các năm 2002 và 2007, Bộ KH&CN đã ban hành Danh mục phương tiện đo phải kiểm định gồm 39 loại phương tiện đo cụ thể thuộc 8 lĩnh vực đo: Khối lượng, độ dài, dung tích - lưu lượng, áp suất, nhiệt độ, hóa lý, điện - điện từ, thời gian - tần số - âm thanh.
Hệ thống các tổ chức kiểm định bao gồm các tổ chức KH&CN công lập và các tổ chức ngoài công lập được công nhận khả năng kiểm định đối với từng lĩnh vực đo cụ thể. Cho đến nay, cả nước đã có hơn 200 tổ chức được công nhận khả năng kiểm định, đáp ứng được phần lớn nhu cầu kiểm định của các tổ chức, cá nhân trong cả nước. Hệ thống các tổ chức kiểm định này hàng năm đã kiểm định được trên hai triệu phương tiện đo các loại thuộc danh mục phương tiện đo bắt buộc phải kiểm định, trải rộng trên mọi miền đất nước và trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: Sản xuất, thương mại, y tế, môi trường, giao thông...
Quản lý các phép đo trong thương mại bán lẻ và hàng đóng gói sẵn: Đây là những lĩnh vực đo lường thuộc đo lường pháp định gắn liền với quyền lợi của đông đảo người dân. Pháp lệnh Đo lường quy định cụ thể: Tổ chức, cá nhân thực hiện các phép đo có ý nghĩa quan trọng liên quan đến việc định lượng hàng hóa khi mua bán và thanh toán; đảm bảo an toàn, sức khỏe và môi trường; giám định tư pháp và phục vụ các hoạt động công vụ của Nhà nước phải sử dụng phương tiện đo đã được kiểm định và phương pháp đo theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi để khách hàng có thể kiểm tra các phép đo này.
Thực hiện quy định trên, năm 2002, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ KH&CN) đã ban hành Quyết định số 31/2002/QĐ-BKHCNMT quy định về đo lường đối với các phép đo trong thương mại bán lẻ. Văn bản này quy định cụ thể độ lệch cho phép đối với các phép đo khối lượng (cân) và phép đo thể tích (đong) trong thương mại bán lẻ cùng phương pháp kiểm tra các phép cân, đong này. Pháp lệnh Đo lường khuyến khích việc mua bán trên cơ sở hàng đóng gói sẵn theo định lượng và quy định phải ghi rõ lượng hàng hóa đóng gói trên bao bì; chênh lệch lượng hàng hóa thực tế và lượng hàng hóa ghi trên bao bì không được vượt quá giới hạn cho phép. Bộ KH&CN cũng đã ban hành văn bản cụ thể hóa các quy định trên.
Hoạt động đo lường pháp định trong thời gian qua đã được các cơ quan quản lý nhà nước về đo lường quan tâm thích đáng, được các cấp lãnh đạo chỉ đạo sát sao và đã đạt nhiều kết quả đáng khích lệ.
ĐO LƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Đây là lĩnh vực đo lường gắn liền với sản xuất của các doanh nghiệp, phục vụ trực tiếp sản xuất, nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đến nay, nước ta đã hình thành và phát triển được một mạng lưới các phòng hiệu chuẩn được công nhận để các chuẩn và phương tiện đo dùng trong công nghiệp, trong sản xuất kinh doanh được liên kết với chuẩn đo lường quốc gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) thông qua một chuỗi liên kết - các phép hiệu chuẩn, không đứt đoạn. Mặc dù hệ thống các phòng hiệu chuẩn được công nhận ở nước ta chưa thật sự mạnh, chưa thật sự đầy đủ các lĩnh vực đo cần thiết và chưa thực sự đáp ứng được tất cả các nhu cầu của nền công nghiệp đang phát triển nước ta, nhưng có thể nói, mảng hoạt động đo lường này đã phát huy tác dụng và góp phần đáng kể vào phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam.
Cùng với các tổ chức kiểm định, các phòng hiệu chuẩn được công nhận ở nước ta đã hợp thành một hệ thống các tổ chức thực hiện việc liên kết đo lường cho các phương tiện đo thuộc lĩnh vực đo lường pháp định cũng như những phương tiện đo trong các ngành công nghiệp, trong sản xuất kinh doanh với Hệ thống chuẩn đo lường quốc gia, đảm bảo cho các phương tiện đo này có độ chính xác phù hợp và thống nhất trong phạm vi cả nước.
Đo lường là lĩnh vực hoạt động mang tính quốc tế cao. Để các phép đo, phép hiệu chuẩn, phép thử nghiệm của các phòng thí nghiệm của nước ta đạt được tiêu chí “đo, thử nghiệm ở một nơi, được chấp nhận ở nhiều nơi” đòi hỏi chuẩn đo lường của các phòng thí nghiệm phải được liên kết đến chuẩn quốc tế thông qua việc liên kết với chuẩn quốc gia đã được trực tiếp hoặc gián tiếp liên kết tới chuẩn quốc tế. Đồng thời, hoạt động của phòng thí nghiệm phải tuân thủ theo một hệ thống quản lý chất lượng được đánh giá và công nhận phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia/quốc tế theo quy định. Bằng sự tham gia của đo lường nước ta vào các tổ chức đo lường quốc tế, khu vực (APMP, APMLF, CGPM, OIML) và sự tham gia của tổ chức công nhận chất lượng nước ta vào các tổ chức quốc tế (APLAC, ILAC), hoạt động đo lường của nước ta thực sự đã từng bước hội nhập quốc tế với Hệ thống chuẩn đo lường quốc gia và Hệ thống quản lý chất lượng phòng thí nghiệm được công nhận quốc tế. Hệ thống chuẩn đo lường quốc gia, hệ thống các chuẩn chính, chuẩn công tác được thiết lập, duy trì, khai thác ở các địa phương, các bộ/ngành, doanh nghiệp cùng với hệ thống các văn bản pháp quy về đo lường của Nhà nước ta thực sự là một thành tố quan trọng trong hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo cho sự phát triển vững chắc của nền kinh tế.
|
 |