VẤN ĐỀ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ VÀ ĐỊA ĐIỂM XÂY DỰNG NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM
Hiện nay, trên thế giới, khu vực sản xuất năng lượng đang đứng trước những thách thức to lớn do nhu cầu năng lượng ngày càng tăng nhanh, trong khi các nguồn nhiên liệu truyền thống ngày càng cạn kiệt; tác động xấu đến môi trường, đặc biệt là gây ra sự biến đổi khí hậu, do việc khai thác, sản xuất và sử dụng năng lượng không hợp lý. Trong quá trình tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, do nhu cầu tăng trưởng nhanh, Việt Nam cũng không tránh khỏi những thách thức đó.
Để đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước, đặc biệt là cung cấp điện năng, ngay từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước, Chính phủ đã giao cho Bộ Công nghiệp, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan tiến hành một số chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu khả năng đưa điện hạt nhân vào Việt Nam. Vừa qua, Đề án xây dựng Chiến lược phát triển và ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình (do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì) và Dự án nghiên cứu tiền khả thi xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam (do Bộ Công nghiệp chủ trì) đã hoàn thành và trình Thủ tướng Chính phủ, trong đó khẳng định: Ngoài việc đầu tư nghiên cứu khai thác các nguồn năng lượng mới như gió, mặt trời, năng lượng sinh khối, để đáp ứng nhu cầu điện năng của đất nước, Việt Nam cần phải phát triển điện hạt nhân. Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam dự kiến sẽ xuất hiện vào năm 2020.
Xuất phát từ những đặc điểm và yêu cầu của việc đưa điện hạt nhân vào Việt Nam, các cơ quan chức năng đã luôn coi trọng và thúc đẩy các hoạt động hợp tác Quốc tế, coi đây là một trong những nhân tố có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo đảm việc thực hiện thành công dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam, đặc biệt là với Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và một số nước có ngành công nghiệp điện hạt nhân tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp...
Tiếp theo Hội thảo Việt - Pháp về pháp luật năng lượng hạt nhân (tổ chức tháng 6.2005), mới đây Hội thảo công nghệ Việt - Pháp về các lò phản ứng hạt nhân và việc lựa chọn địa điểm đã được tổ chức tại Hà Nội. Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của 3 chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân của Việt Nam về các vấn đề này.
PGS-TS Nguyễn Tiến Nguyên - Chuyên viên cao cấp Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Môi trường (Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam), nguyên Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam:
Việt Nam nên thúc đẩy các đối tác thành lập một tổ hợp gồm nhiều quốc gia (như Nhật, Hàn Quốc, Mỹ, Pháp, Canada, Nga) cùng tiến hành với mình. Mô hình này đã được một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc áp dụng. Nếu được như thế, Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi. Thứ nhất, vốn huy động (tài chính) sẽ nhiều hơn (nếu ta xây dựng một nhà máy điện hạt nhân với 4 lò phản ứng sẽ hết khoảng 8 tỷ USD). Thứ hai, tạo mối quan hệ bền vững hơn (điều rất quan trọng trong vấn đề năng lượng hạt nhân); mối quan hệ này nên đa phương, vì mỗi nước tham gia vào tổ hợp đều có quyền lợi, giảm được sự đối đầu. Còn chúng ta có thể lựa chọn những điểm mạnh của từng đối tác, kết hợp được nhiều công nghệ của các nước khác nhau (ví dụ: Nhật rất mạnh về điện tử, điều khiển; Pháp có truyền thống, kinh nghiệm lâu năm về điện hạt nhân; Hàn Quốc có nhiều công nghệ mới) mà không cần phải lo đến vấn đề không đồng bộ vì hiện nay các công nghệ, thiết bị đều đã được chuẩn hoá, theo xu hướng modun hoá, các thiết bị đều có thể thiết kế được. Do vậy, việc lựa chọn công nghệ năng lượng hạt nhân cần phải được suy nghĩ nghiêm túc, kỹ lưỡng. Chúng ta có rất nhiều công đoạn phải làm: Hiện nay mới chỉ là giai đoạn tiền khả thi (do Bộ Công nghiệp chủ trì), sau đó mới đến giai đoạn nghiên cứu khả thi, lựa chọn địa điểm, thiết kế kỹ thuật, đấu thầu (mỗi công đoạn mất khoảng vài năm); riêng giai đoạn khởi công xây dựng đến khi đưa lò hạt nhân đầu tiên vào hoạt động sẽ mất khoảng 7 năm. Nếu ta dự định sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào năm 2020 thì bây giờ ta phải rất quyết liệt rồi. Tiến độ như hiện nay là còn chậm. Nếu căn cứ vào tình trạng hiện nay, thì ta chưa đủ nhân lực, tác phong cũng chưa đủ. Tuy nhiên, nếu chúng ta quyết tâm đào tạo và tập trung một lực lượng tinh nhuệ, nhất định chúng ta sẽ làm được.
Về cách thức lựa chọn công nghệ theo hình thức đấu thầu ở các nước có rất nhiều hệ thống khác nhau: Có thể đấu thầu các loại công nghệ khác nhau rồi mới lựa chọn ra công nghệ thích hợp, hoặc có thể chọn ra công nghệ thích hợp rồi đấu thầu từng khâu thiết bị.
Về vấn đề địa điểm, tôi cũng đã tham gia giai đoạn khảo sát sơ bộ (dựa vào bản đồ, điều tra địa hình, điều tra kinh tế - xã hội, đo khí tượng thủy văn, khoan một số mũi khoan thăm dò tại vùng khảo sát). Sau giai đoạn khảo sát sơ bộ sẽ đến giai đoạn khảo sát kỹ lưỡng về địa chất thủy văn tại những nơi dự kiến lựa chọn. Hiện nay có 3 địa điểm được xếp hạng ưu tiên, đó là: Phước Dinh, Vĩnh Hải (Ninh Thuận), Hàm Tân (Phú Yên). Tại những địa điểm này, chúng tôi cũng đã tổ chức các cuộc hội thảo và triển lãm về điện hạt nhân, qua đó đã nhận được sự ủng hộ của chính quyền và nhân dân địa phương. Vấn đề quan trọng là sự chuẩn bị kỹ lưỡng và cung cấp thông tin chân thực cho cộng đồng.
TS Trần Thanh Liễn - Viện Năng lượng (Bộ Công nghiệp):
Hiện nay, chúng ta đang xúc tiến các hoạt động chuẩn bị cho việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam. Điều đó là rất cần thiết, bởi theo kết quả tính toán và dự báo của chúng tôi, đến năm 2020, nhu cầu điện của Việt Nam là từ 200 đến 230 tỷ kwh (đã tính tới giải pháp tiết kiệm năng lượng), trong đó, tổng nguồn năng lượng sơ cấp cho sản xuất điện chỉ đáp ứng 165 tỷ kwh, như vậy còn thiếu khoảng 65 tỷ kwh. Để giải quyết sự thiếu hụt này có một số giải pháp sau:
- Phát triển năng lượng tái tạo: Do hạn chế về tiềm năng và vốn đầu tư nên khả năng sản xuất của năng lượng tái tạo chỉ đáp ứng khoảng 4-5 tỷ kWh (năm 2020).
- Đến năm 2020, nhập khẩu điện từ các nước láng giềng: Từ Lào (2.000 MW), từ Trung Quốc (1.000 MW), từ Campuchia (1.000 MW). Như vậy mới đáp ứng được khoảng 20 tỷ kwh, vẫn còn thiếu khoảng 40 tỷ kWh nữa. Do vậy, sẽ cần 20 triệu tấn than nhập cho điện vào năm 2020. Tuy nhiên, nếu chỉ nhập khẩu than để giải quyết việc thiếu hụt điện này sẽ gây ra nhiều vấn đề về môi trường, giá cả, vận chuyển, thị trường, Do vậy, phương án tổng hòa (tối ưu) sẽ là vừa nhập khẩu than (4-5 triệu tấn), vừa xây dựng Nhà máy điện hạt nhân (công suất 2.000-4.000 MW, tương ứng với sản lượng điện từ 14 đến 28 tỷ kWh).
Hiện nay, trên thế giới phổ biến 3 loại lò là: Lò phản ứng nước áp lực PWR (Mỹ, Pháp, Đức,…), Lò phản ứng nước sôi BWR (Nhật, Mỹ,…), Lò phản ứng nước nặng áp lực PHWR (Canada,…). Ngoài ra, còn có Lò phản ứng nước áp lực kiểu Nga, Lò phản ứng RBMK graphit nước nhẹ, Lò phản ứng tải nhiệt bằng khí cải tiến, Lò phản ứng tái sinh nơtron nhanh. Dựa theo các tiêu chí về tính an toàn và kinh tế thì loại Lò phản ứng nước áp lực và Lò phản ứng nước sôi có vẻ phù hợp với Việt Nam hơn cả. Tuy nhiên, mỗi loại lò lại có những ưu điểm riêng, như: Lò phản ứng nước áp lực có tính phổ biến cao (chiếm 60% số lò trên thế giới), Lò phản ứng nước sôi có kích thước lò gọn nhẹ, Lò phản ứng nước nặng có thể sử dụng được Uranium tự nhiên mà không cần phải làm giàu. Do vậy, cần có sự lựa chọn thật kỹ lưỡng để có thể quyết định trong giai đoạn nghiên cứu khả thi.
TS Lê Văn Hồng - Phó Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam:
Tại thời điểm này, chúng ta vẫn chưa chọn một đối tác nào chính thức làm việc với Việt Nam mà đang xem xét và đánh giá tất cả những công nghệ có thể phù hợp với Việt Nam (đến giai đoạn nghiên cứu khả thi sẽ phải quyết định lựa chọn công nghệ nào). Trên thực tế, trong quá trình phát triển điện hạt nhân, Việt Nam là một nước còn yếu kém về cơ sở hạ tầng, cơ sở pháp lý; chưa có kinh nghiệm; thiếu hụt về nhân lực, nên Việt Nam chủ trương hợp tác rộng rãi với các nước có công nghiệp điện hạt nhân phát triển. Riêng với Pháp, là nước có truyền thống hợp tác lâu dài với Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, đã đào tạo cho Việt Nam nhiều cán bộ (của Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam và một số cơ quan khác). Việt Nam và Pháp đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo xoay quanh các vấn đề: Khoa học kỹ thuật, công nghệ hạt nhân; xây dựng cơ sở pháp lý; đào tạo nguồn nhân lực (hiện nay Việt Nam đang chuẩn bị xây dựng một chương trình toàn diện về đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển điện hạt nhân). Dự kiến, quý I năm 2006, chúng tôi sẽ tổ chức một hội thảo về an toàn và kinh tế điện hạt nhân - mối quan tâm hàng đầu của công chúng. Chúng tôi đánh giá Pháp là một trong những đối tác hàng đầu trong việc giúp chúng ta phát triển điện hạt nhân.
Về việc lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân, cần tuân theo những quy định, tiêu chuẩn nhất định của IAEA. Việt Nam đã cùng với một số chuyên gia nước ngoài (Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc) thực hiện những khảo sát rộng lớn từ miền Bắc đến miền Nam. Trong quá trình khảo sát đó, chúng tôi phát hiện ra nhiều địa điểm tiềm tàng (16 địa điểm) có thể xây dựng nhà máy điện hạt nhân, trong đó sàng lọc ra 3 địa điểm thuận lợi nhất (thuộc khu vực miền Trung). Tuy nhiên, chúng tôi sẽ phải khảo sát kỹ những nơi này theo các tiêu chí về an toàn, kỹ thuật, địa chất, môi trường, kinh tế - xã hội...
Để đảm bảo tiến độ, Chính phủ cần phải có quyết tâm cao, chỉ đạo quyết liệt hơn nữa, tạo mọi điều kiện cho các cán bộ trong nước, các cơ quan hữu quan và các đối tác nước ngoài cùng hợp tác chặt chẽ. Như vậy thì chúng ta có thể tin tưởng rằng đến năm 2020, Việt Nam sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên đi vào hoạt động.